- Последний пост
- 7 апр.
- Последнее чтение
- 14 авг.
- Постов за неделю
- 0
- Всего постов
- 20
- Тип
- открытый
- Язык
- und
- В каталоге с
- 13 авг.
- 1/24сутки в ленте
- —
- 1/48двое суток
- —
- 1/72трое суток
- —
Оценка по просмотрам недавних постов: пост набирает почти всё за первые сутки.
Посты
Rockefeller đã loại bỏ các phương pháp chữa bệnh tự nhiên khỏi trí tưởng tượng của đại chúng để tạo ra ngành công nghiệp dược phẩm hiện đại như thế nào? Ngày nay, mọi người có thể coi bạn là một kẻ lập dị nếu bạn nói về đặc tính chữa bệnh của thực vật hoặc bất kỳ phương pháp toàn diện nào khác. Giống như mọi thứ khác, có rất nhiều yếu tố chính trị và tiền bạc đằng sau hệ thống y tế hiện đại của chúng ta. Tất cả bắt đầu với John D. Rockefeller (1839–1937), một ông trùm dầu mỏ, một trùm cướp bóc, và là tỷ phú kiêm nhà độc quyền đầu tiên ở Hoa Kỳ. Vào đầu thế kỷ 20, ông kiểm soát 90% tất cả các nhà máy lọc dầu ở Hoa Kỳ thông qua công ty dầu mỏ của mình, Standard Oil, sau này được chia thành các công ty như Chevron, Exxon và Mobil. Khoảng năm 1900, các nhà khoa học đã phát hiện ra "hóa dầu" và khả năng tạo ra tất cả các loại hóa chất từ dầu mỏ. Nhựa đầu tiên được sản xuất vào năm 1907, và các nhà khoa học cũng đã xác định được một số loại vitamin, dẫn đến giả định rằng nhiều loại thuốc dược phẩm có thể được chiết xuất từ dầu mỏ. Điều này đã mở ra một cơ hội tuyệt vời cho Rockefeller, người nhận ra tiềm năng độc quyền đồng thời các ngành công nghiệp dầu mỏ, y tế và hóa chất. Điều tuyệt vời nhất về hóa dầu là mọi thứ đều có thể được cấp bằng sáng chế và bán với lợi nhuận cao. Tuy nhiên, kế hoạch của Rockefeller cho ngành y tế gặp phải một vấn đề: thuốc tự nhiên và thảo dược rất phổ biến ở Mỹ vào thời điểm đó. Gần một nửa số bác sĩ và trường đại học y khoa ở Hoa Kỳ thực hành y học toàn diện, tận dụng kiến thức của người dân bản địa châu Âu và châu Mỹ. Do đó, Rockefeller phải tìm cách loại bỏ đối thủ cạnh tranh lớn nhất của mình. Vì vậy, ông đã sử dụng chiến lược kinh điển "giải pháp-vấn đề-phản ứng". Điều này bao gồm việc tạo ra một vấn đề để hù dọa mọi người và sau đó đưa ra một giải pháp được lên kế hoạch trước. Ông đã tìm đến người bạn của mình là Andrew Carnegie, một nhà tài phiệt khác cũng đã làm giàu bằng cách độc quyền ngành công nghiệp thép, và họ cùng nhau vạch ra một kế hoạch. Thông qua Quỹ Carnegie danh tiếng, họ đã cử một người tên là Abraham Flexner đi khắp đất nước và báo cáo với hiệu trưởng các trường đại học y và bệnh viện. Điều này dẫn đến Báo cáo Flexner, đánh dấu sự ra đời của nền y học hiện đại như chúng ta biết. Báo cáo nhấn mạnh sự cần thiết phải hiện đại hóa và tập trung hóa các cơ sở y tế. Dựa trên những phát hiện của nó, hơn một nửa số trường đại học y đã sớm đóng cửa. Liệu pháp vi lượng đồng căn và y học tự nhiên bị chế giễu và lên án, và nhiều bác sĩ thậm chí còn bị bỏ tù. Để tạo điều kiện cho quá trình chuyển đổi này và tác động đến quan điểm của các bác sĩ và nhà khoa học khác, Rockefeller đã tài trợ hơn 100 triệu đô la cho các trường đại học và bệnh viện, đồng thời thành lập một nhóm hoạt động từ thiện mang tên "Hội đồng Giáo dục Đại cương" (GEB). Trong một thời gian rất ngắn, tất cả các trường y đã được hiện đại hóa và đồng nhất. Sinh viên được dạy cùng một nội dung, và y học bắt đầu tập trung vào việc sử dụng các loại thuốc được cấp bằng sáng chế. Các nhà khoa học đã nhận được các khoản tài trợ đáng kể để nghiên cứu cách thực vật chữa bệnh, nhưng mục tiêu của họ trước tiên là xác định những hóa chất nào trong thực vật có hiệu quả và sau đó tái tạo một hóa chất tương tự, mặc dù không giống hệt, trong phòng thí nghiệm để có thể được cấp bằng sáng chế. Giờ đây, 100 năm sau, chúng ta đang sản sinh ra những bác sĩ biết rất ít về lợi ích của dinh dưỡng, thảo dược, hoặc bất kỳ phương pháp điều trị toàn diện nào. Chúng ta đang sống trong một xã hội phụ thuộc phần lớn vào các tập đoàn để tồn tại. Họ không tập trung vào việc chữa trị mà chỉ tập trung vào các triệu chứng, do đó tạo ra khách hàng thường xuyên. Trong ngành dược phẩm, không có phương pháp chữa trị ung thư, tiểu đường, tự kỷ, hen suyễn, hay thậm chí là cúm; đó sẽ là một hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, vì họ sẽ mất hết khách hàng. Về ung thư, vâng, Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ được thành lập bởi Rockefeller vào năm 1913. Nguồn: HISPANICA. Bé Mon sưu tầm và dịch.
видео или голосовое, без подписи
видео или голосовое, без подписи
Mẹ của anh này đang đấu tranh dữ lắm và bà nghi ngờ ảnh bị hạ độc xyanua: BẰNG CHỨNG G.I.ẾT NGƯỜI: Vào phút thứ 1:00 trong đoạn ghi âm đính kèm, giám định viên y khoa đang mô tả mũi kim tiêm này vào cổ Chris!!! Christopher Erick, vị trí tiêm chất độc xyanua vào động mạch cảnh. Cựu trung sĩ Tim Scott đã ghi nhận đây là cái chết tự nhiên đầu tiên. 2) Giám định viên y khoa đã thay đổi giấy chứng tử thành Ngộ độc xyanua chưa xác định và 2 cơn đau tim. 3) Cựu trung sĩ MPD Tim Scott ghi nhận đây là "Tự tử". https://youtu.be/ClAao8aQONI?si=mIeq4XfnSEKW8TxSr
NGƯỜI MẸ BÀNG HOÀNG NHẬN RA CON TRAI MẤT TÍCH TRONG PHÒNG TRƯNG BÀY XÁC KHÔ ‼️ Câu chuyện bắt đầu khi một người mẹ đến tham quan bảo tàng giải phẫu Real Bodies ở Las Vegas. Cô nghĩ đây chỉ là một buổi triển lãm bình thường cho đến khi ánh mắt dừng lại trước một xác khô được bảo quản bằng nhựa, nằm dưới ánh đèn sáng rọi. Ngay khoảnh khắc ấy, trái tim cô thắt lại. Không cần suy đoán, không chút do dự — cô biết đó chính là Christopher Todd Erick, đứa con trai đã mất tích bấy lâu nay. “Tôi biết đó là con trai mình. Cảm giác chắc chắn này… chỉ một người mẹ mới có thể hiểu.” – cô nói. Thế nhưng, thay vì nhận được lời giải thích, cô bị lặng lẽ dẫn đi. Ban tổ chức triển lãm khẳng định mọi thi thể đều được “quyên tặng hợp pháp”. Không xét nghiệm ADN. Không điều tra. Không một câu trả lời. Đây là ác mộng thật sự của một người mẹ - và có thể còn là của nhiều gia đình khác, nếu sự thật này bị chôn vùi trong im lặng. Nguồn tin: Ancientknowledge 2023 l Sóc nhỏ 247
видео или голосовое, без подписи
видео или голосовое, без подписи
Ngoài ra, khái niệm về một nguyên tố hoàn toàn không phản ứng đã trở nên rất hợp lý sau khi phát hiện ra Mendeleev dự đoán sự tồn tại của hai nguyên tố nhẹ hơn hydro, gọi chúng là các nguyên tố x và y, dựa trên mối quan hệ số học giữa tỷ lệ trọng lượng nguyên tử trong bảng tuần hoàn mà ông nghĩ ra vào năm 1904. Trong đó: + Nhóm 0, dòng 0: Newtonium (Ether - Ae) + Nhóm 0, dòng 1: Coronium (Ko) Tuy nhiên sau đó, 2 nguyên tố trên - Ether (Ae) và coronium (Ko) - đã bị loại bỏ ra khỏi bảng tuần hoàn Mendeleev. Một số bảng tuần hoàn được công bố đã chừa khoảng trống cho Ether và đánh dấu vị trí đó bằng chữ x. Các nguyên tố x và y chính là Newtonium và Coronium. Bây giờ người ta chỉ có thể tìm lại được thông tin về Ether trong các quyển sách khoa học được ra đời trước những năm 1920s, nhưng liệu còn được bao nhiêu quyển sách ấy còn tồn tại? Ether là nguyên tố quyết định đến năng lượng tự do - miễn phí có mặt khắp nơi trong khí quyển. Nhưng khi Ether biến mất khỏi chương trình giáo dục, đồng thời các công trình khai thác năng lượng Aether trên khắp thế giới bị tàn phá, hoặc bị vô hiệu hóa, loài người đã bị che giấu khỏi sự tồn tại của thứ năng lượng sạch và vô tận thực sự trên mặt đất này. Sau đó thì ngành công nghiệp dầu mỏ lên ngôi, động cơ chạy bằng nhiên liệu hóa thạch ra đời thay thế cho động cơ điện của Tesla - động cơ chạy bằng năng lượng từ Ether. Kiểm soát năng lượng là một trong những cách mà các gia tộc giàu có nhất - những người thuộc 1% trong 1% còn lại, thao túng thế giới này. Bài về Ether phần 3: https://www.facebook.com/share/v/1B6LvjszXP/?mibextid=wwXIfr Bài về Ether phần 4: https://www.facebook.com/share/15t3n5B3rP/?mibextid=wwXIfr Bài về Plasma Mặt trời - Mặt Trăng: https://www.facebook.com/share/19npvH7LDV/?mibextid=wwXIfr
Aether/Ether phần 4 và phần 5: Bạn có thắc mắc tại sao họ loại bỏ nguyên tố Ether trong bảng tuần hoàn hoá học? Theo khoa học cổ đại và trung cổ, Aether hay Ether, được gọi là nguyên tố thứ năm hay tinh hoa, là một chất tinh tế, vô hình có mặt khắp nơi, lấp đầy khoảng trống của mọi không gian. Họ tin rằng 4 nguyên tố đất, không khí, lửa và nước có thể chuyển đổi và tạm bợ, nhưng Ether là vĩnh cửu. Ether kết nối với mọi thứ bằng điện từ thông qua năng lượng rung động và bốn nguyên tố còn lại: không khí, lửa, nước và đất chỉ tồn tại vì chúng là biểu hiện của rung động Ether. Tiếng La tinh gọi nó là “quinta essentia” (tinh chất thứ 5) của vũ trụ, có thể được tìm thấy ở dưới đất cũng như trên trời. Ether là nguyên tố mang điện từ, nó kết nối với mọi thứ trong lĩnh vực của chúng ta. Ether là dòng năng lượng chạy khắp cơ thể mỗi người mà trong khái niệm của Đông Y học, người ta gọi nó là KHÍ. Ether cũng tồn tại bao bọc xung quanh mọi cơ thể sinh vật tạo thành quầng hào quang mà mắt thường không thể nhìn thấy được. Ether tạo ra Plasma mặt trời & mặt trăng. Ether, giống như khí hiếm của tầng điện ly, có khả năng phản ứng với các trường dĩ thái, tạo ra ánh sáng khi bị ion hóa. Những phản ứng này được gọi là hiện tượng plasma và chúng tồn tại ở mọi nơi xung quanh chúng ta, có động lực chuyển động và tính tuần hoàn. Mỗi phần tử của tầng điện ly, giống như ether, chiếu sáng khác nhau tạo ra các hiện tượng như mặt trời, ánh sáng ban ngày, mặt trăng và các ngôi sao của mái vòm điện từ. Tùy theo độ cao từng lớp của từng nguyên tố mà chúng ta có phản ứng khác nhau đối với trường điện từ vũ trụ theo phương thẳng đứng từ dưới lên trên và ngược lại. Ether là một trong những bí mật lớn nhất của giới tinh hoa. Nếu khoa học tiết lộ rằng Ether tồn tại, nó sẽ phá hủy toàn bộ nền tảng của chủ nghĩa nguyên tử và khoa học hạt chính thống. Từ chối Ether sẽ giống như một con cá phủ nhận rằng nó được bao quanh bởi nước. Nguyên tố Ether đã biến mất như thế nào? Từ những năm 1920s, khi gia tộc Rockefeller nắm quyền kiểm soát toàn bộ hệ thống giáo dục, Ether đã bị loại bỏ khỏi tất cả các tài liệu khoa học/sách giáo khoa. Tất cả đầu sách nói về Ether gần như đã biến mất. Ether và Bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học của Mendeleev: Bảng tuần hoàn Mendeleev chỉ thực sự trở thành trung tâm của hóa học sau Đệ nhất Thế chiến, ít nhất một phần là do sự xuất hiện của nguyên tử Bohr với hạt nhân proton ở trung tâm được bao quanh bởi các electron quay quanh. Sau khi phát triển hệ thống tuần hoàn của mình, Mendeleev chuyển sang vật lý khí để tìm kiếm ether và thành phần của nó. Ether là chén thánh của khoa học vật lý vào nửa sau thế kỷ 19 và hầu như tất cả các nhà khoa học đều chấp nhận sự tồn tại của nó. Năm 1902, trong nỗ lực đưa ra quan niệm hóa học về ether, ông đưa ra giả thuyết rằng tồn tại hai nguyên tố có trọng lượng nguyên tử nhỏ hơn hydro, và nguyên tố nhẹ hơn trong số này (nhẹ hơn hydro một triệu lần) là nguyên tố trơ về mặt hóa học, cực kỳ linh động, có khả năng xuyên thấu hoàn toàn và khí lan tỏa khắp nơi, gọi là Ether. Vì Ether được cho là có khối lượng nên Mendeleev quyết tâm tìm ra nó và đặt nó vào bảng tuần hoàn của ông trong nhóm 0 là nhóm các khí hiếm. Mendeleev dành sự quan tâm đáng kể đến các nguyên tố xuất hiện trước hydro trong bảng tuần hoàn. Ông đưa ra một số lý do để xem xét khả năng đó một cách nghiêm túc. Trước hết, việc phát hiện ra một loạt nguyên tố hoàn toàn mới là các khí hiếm "trong những năm gần đây" của thế kỷ 19 khiến ông nghĩ rằng chuỗi này có thể được mở rộng lên tới những chất tương tự trước đó của hai loại khí hiếm đầu tiên, helium và neon. Thứ hai, sự thành công rõ ràng của lý thuyết Ether trong vật lý quang học gợi ý cho ông rằng ether nên được xác định là một nguyên tố mới mà ông chọn gọi là Newtonium. Thứ ba, Ether sẽ không có khả năng kết hợp hóa học vì người ta tin rằng nó có thể thấm vào mọi chất.
Ngoài ra, khái niệm về một nguyên tố hoàn toàn không phản ứng đã trở nên rất hợp lý sau khi phát hiện ra Mendeleev dự đoán sự tồn tại của hai nguyên tố nhẹ hơn hydro, gọi chúng là các nguyên tố x và y, dựa trên mối quan hệ số học giữa tỷ lệ trọng lượng nguyên tử trong bảng tuần hoàn mà ông nghĩ ra vào năm 1904. Trong đó: + Nhóm 0, dòng 0: Newtonium (Ether - Ae) + Nhóm 0, dòng 1: Coronium (Ko) Tuy nhiên sau đó, 2 nguyên tố trên - Ether (Ae) và coronium (Ko) - đã bị loại bỏ ra khỏi bảng tuần hoàn Mendeleev. Một số bảng tuần hoàn được công bố đã chừa khoảng trống cho Ether và đánh dấu vị trí đó bằng chữ x. Các nguyên tố x và y chính là Newtonium và Coronium. Bây giờ người ta chỉ có thể tìm lại được thông tin về Ether trong các quyển sách khoa học được ra đời trước những năm 1920s, nhưng liệu còn được bao nhiêu quyển sách ấy còn tồn tại? Ether là nguyên tố quyết định đến năng lượng tự do - miễn phí có mặt khắp nơi trong khí quyển. Nhưng khi Ether biến mất khỏi chương trình giáo dục, đồng thời các công trình khai thác năng lượng Aether trên khắp thế giới bị tàn phá, hoặc bị vô hiệu hóa, loài người đã bị che giấu khỏi sự tồn tại của thứ năng lượng sạch và vô tận thực sự trên mặt đất này. Sau đó thì ngành công nghiệp dầu mỏ lên ngôi, động cơ chạy bằng nhiên liệu hóa thạch ra đời thay thế cho động cơ điện của Tesla - động cơ chạy bằng năng lượng từ Ether. Kiểm soát năng lượng là một trong những cách mà các gia tộc giàu có nhất - những người thuộc 1% trong 1% còn lại, thao túng thế giới này. Bài về Ether phần 3: https://www.facebook.com/share/v/1B6LvjszXP/?mibextid=wwXIfr Bài về Ether phần 4: https://www.facebook.com/share/15t3n5B3rP/?mibextid=wwXIfr Bài về Plasma Mặt trời - Mặt Trăng: https://www.facebook.com/share/19npvH7LDV/?mibextid=wwXIfr
Aether/Ether phần 4 và phần 5: Bạn có thắc mắc tại sao họ loại bỏ nguyên tố Ether trong bảng tuần hoàn hoá học? Theo khoa học cổ đại và trung cổ, Aether hay Ether, được gọi là nguyên tố thứ năm hay tinh hoa, là một chất tinh tế, vô hình có mặt khắp nơi, lấp đầy khoảng trống của mọi không gian. Họ tin rằng 4 nguyên tố đất, không khí, lửa và nước có thể chuyển đổi và tạm bợ, nhưng Ether là vĩnh cửu. Ether kết nối với mọi thứ bằng điện từ thông qua năng lượng rung động và bốn nguyên tố còn lại: không khí, lửa, nước và đất chỉ tồn tại vì chúng là biểu hiện của rung động Ether. Tiếng La tinh gọi nó là “quinta essentia” (tinh chất thứ 5) của vũ trụ, có thể được tìm thấy ở dưới đất cũng như trên trời. Ether là nguyên tố mang điện từ, nó kết nối với mọi thứ trong lĩnh vực của chúng ta. Ether là dòng năng lượng chạy khắp cơ thể mỗi người mà trong khái niệm của Đông Y học, người ta gọi nó là KHÍ. Ether cũng tồn tại bao bọc xung quanh mọi cơ thể sinh vật tạo thành quầng hào quang mà mắt thường không thể nhìn thấy được. Ether tạo ra Plasma mặt trời & mặt trăng. Ether, giống như khí hiếm của tầng điện ly, có khả năng phản ứng với các trường dĩ thái, tạo ra ánh sáng khi bị ion hóa. Những phản ứng này được gọi là hiện tượng plasma và chúng tồn tại ở mọi nơi xung quanh chúng ta, có động lực chuyển động và tính tuần hoàn. Mỗi phần tử của tầng điện ly, giống như ether, chiếu sáng khác nhau tạo ra các hiện tượng như mặt trời, ánh sáng ban ngày, mặt trăng và các ngôi sao của mái vòm điện từ. Tùy theo độ cao từng lớp của từng nguyên tố mà chúng ta có phản ứng khác nhau đối với trường điện từ vũ trụ theo phương thẳng đứng từ dưới lên trên và ngược lại. Ether là một trong những bí mật lớn nhất của giới tinh hoa. Nếu khoa học tiết lộ rằng Ether tồn tại, nó sẽ phá hủy toàn bộ nền tảng của chủ nghĩa nguyên tử và khoa học hạt chính thống. Từ chối Ether sẽ giống như một con cá phủ nhận rằng nó được bao quanh bởi nước. Nguyên tố Ether đã biến mất như thế nào? Từ những năm 1920s, khi gia tộc Rockefeller nắm quyền kiểm soát toàn bộ hệ thống giáo dục, Ether đã bị loại bỏ khỏi tất cả các tài liệu khoa học/sách giáo khoa. Tất cả đầu sách nói về Ether gần như đã biến mất. Ether và Bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học của Mendeleev: Bảng tuần hoàn Mendeleev chỉ thực sự trở thành trung tâm của hóa học sau Đệ nhất Thế chiến, ít nhất một phần là do sự xuất hiện của nguyên tử Bohr với hạt nhân proton ở trung tâm được bao quanh bởi các electron quay quanh. Sau khi phát triển hệ thống tuần hoàn của mình, Mendeleev chuyển sang vật lý khí để tìm kiếm ether và thành phần của nó. Ether là chén thánh của khoa học vật lý vào nửa sau thế kỷ 19 và hầu như tất cả các nhà khoa học đều chấp nhận sự tồn tại của nó. Năm 1902, trong nỗ lực đưa ra quan niệm hóa học về ether, ông đưa ra giả thuyết rằng tồn tại hai nguyên tố có trọng lượng nguyên tử nhỏ hơn hydro, và nguyên tố nhẹ hơn trong số này (nhẹ hơn hydro một triệu lần) là nguyên tố trơ về mặt hóa học, cực kỳ linh động, có khả năng xuyên thấu hoàn toàn và khí lan tỏa khắp nơi, gọi là Ether. Vì Ether được cho là có khối lượng nên Mendeleev quyết tâm tìm ra nó và đặt nó vào bảng tuần hoàn của ông trong nhóm 0 là nhóm các khí hiếm. Mendeleev dành sự quan tâm đáng kể đến các nguyên tố xuất hiện trước hydro trong bảng tuần hoàn. Ông đưa ra một số lý do để xem xét khả năng đó một cách nghiêm túc. Trước hết, việc phát hiện ra một loạt nguyên tố hoàn toàn mới là các khí hiếm "trong những năm gần đây" của thế kỷ 19 khiến ông nghĩ rằng chuỗi này có thể được mở rộng lên tới những chất tương tự trước đó của hai loại khí hiếm đầu tiên, helium và neon. Thứ hai, sự thành công rõ ràng của lý thuyết Ether trong vật lý quang học gợi ý cho ông rằng ether nên được xác định là một nguyên tố mới mà ông chọn gọi là Newtonium. Thứ ba, Ether sẽ không có khả năng kết hợp hóa học vì người ta tin rằng nó có thể thấm vào mọi chất.
Cách bê và di chuyển đồ đúng tư thế.
VIỆC TIÊM VITAMIN K VÀ VX VIÊM GAN B CHO TRẺ Hãy làm rõ hai điều về việc tiêm vitamin K. Đầu tiên, nó không phải là vắc-xin. Thứ hai, nó không phải là một loại vitamin vô hại. Nó là một dạng vitamin K tổng hợp được sản xuất sẵn, và nó gấp nhiều lần những gì một đứa trẻ sẽ nhận được một cách tự nhiên. Nhưng điều quan trọng về vitamin K là nó được sản xuất có chứa rượu benzyl - 9 miligam (mg) rượu benzyl. Vì vậy, các bác sĩ đang tiêm cho những đứa trẻ này, mới vài phút tuổi, một mũi tiêm có chứa cồn nhắm vào gan của chúng, cơ quan cần thiết để chúng giải độc. Có rất nhiều trẻ sơ sinh bị vàng da (tăng bilirubin máu) trong vòng hai ngày sau khi được sinh ra. Một trong những tác dụng phụ đã được thừa nhận của việc tiêm vitamin K tổng hợp, cùng với sốc và suy tim hoặc suy hô hấp, là VÀNG DA. Gan cũng cực kỳ quan trọng trong việc giải độc nhôm - 250 microgam (mcg) nhôm - có trong vắc-xin viêm gan B, loại được tiêm trong vòng 12 giờ sau khi sinh ở hầu hết các nơi. Viêm gan B là bệnh lây truyền qua đường máu và đường tình dục. Hầu hết trẻ sơ sinh không có nguy cơ mắc bệnh viêm gan B ở Hoa Kỳ giống như ở các quốc gia khác ở Châu Á, Trung Đông và Châu Phi, nơi có từ 2-10% dân số trưởng thành bị nhiễm bệnh mãn tính. Mọi phụ nữ mang thai đều được kiểm tra viêm gan B khi mang thai và các bác sĩ cũng như y tá sẽ biết trước khi sinh người mẹ đó có dương tính hay không. Vì vậy, họ biết đứa trẻ có nguy cơ lây nhiễm viêm gan B hay không và họ không quan tâm. Họ đang cố gắng tiêm vắc-xin đó cho 100% trẻ sơ sinh được sinh ra ở Mỹ. Liên quan đến chất bổ trợ nhôm trong vắc-xin viêm gan B, cần lưu ý rằng mọi loại thuốc tiêm khác đều được điều chỉnh bởi lượng nhôm tối đa an toàn để tiếp nhận trong khoảng thời gian 24 giờ. Vì vậy, ví dụ, giới hạn của Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đối với việc nhỏ giọt vào tĩnh mạch (IV) là 5 mcg nhôm trên mỗi kilôgam (kg) trọng lượng cơ thể trong khoảng thời gian 24 giờ. Vì vậy, đối với trẻ sơ sinh nặng 8 hoặc 10 pound, có thận khỏe mạnh, có thể cần 30 mcg nhôm trong khoảng thời gian 24 giờ. Nhưng vắc-xin viêm gan B có hàm lượng 250 mcg được tiêm cho trẻ sơ sinh, trẻ sinh non và trẻ sơ sinh rất nhẹ cân. Những em bé này đang bị ngưng thở, SIDS, khó thở, tỷ lệ bão hòa oxy của chúng đang giảm trong các đơn vị chăm sóc đặc biệt dành cho trẻ sơ sinh… đây là những em bé ốm yếu sau khi tiêm vắc-xin. Đó chỉ là một mũi tiêm viêm gan B. Sau đó, trẻ sơ sinh được tiêm vắc-xin hai tháng một lần. Họ nghĩ chúng ta quá ngu ngốc đến mức không hiểu được sự khác biệt giữa thứ gì đó được đưa vào cơ thể bằng đường uống, nơi nó đi qua đường tiêu hóa và nó bị phân hủy bởi các enzym và dịch tiêu hóa trong cơ thể và được đào thải bởi thận - so với việc chọc kim vào tay hoặc chân của trẻ sơ sinh khi nhôm đó đi nhanh vào các mao mạch, vào máu và qua hàng rào máu não, nơi nó có thể tích tụ trong não. Tác giả: Marcella Piper
THUỐC TÂY là hoá dược có nguồn gốc từ DẦU MỎ: Ngành công nghiệp hoá dầu là ngành đem lại doanh thu hàng tỷ đô và len lỏi hầu như vào đời sống hàng ngày của chúng ta. Các sản phẩm hóa dầu là thành phần cơ bản tạo nên nhiều loại sản phẩm tiêu dùng: nhựa, polyme, mực, sơn, dược phẩm, phân bón và thuốc trừ sâu đều được làm từ hóa dầu. Dược phẩm chiếm khoảng 3% lượng sử dụng hóa dầu nhưng gần 99% dược phẩm có chứa hóa dầu. Một số dạng hóa trị liệu có thành phần cốt lõi có nguồn gốc từ dầu mỏ được gọi là mù tạt nitơ. Hầu hết các dược phẩm đều có nguồn gốc từ hóa dầu. Axit cacboxylic và anhydride được sử dụng để tạo ra Novocaine và acetaminophen cũng như thuốc an thần, thuốc thông mũi, thuốc kháng histamin và xà phòng kháng khuẩn. Este và rượu có nguồn gốc từ nhiên liệu hóa thạch được sử dụng trong quá trình lên men sản xuất thuốc kháng sinh. Glycol và xenlulo được sử dụng để bao phủ thuốc viên và liên kết các thành phần của viên thuốc với nhau. Các chất hóa dầu có thể được tìm thấy trong mọi thứ, từ penicillin, siro ho và thuốc đạn trực tràng đến thuốc nhuộm phóng xạ và phim chụp X-quang. Không nơi nào độ bền của nhựa có giá trị hơn trong y học. Máy tạo nhịp tim và van tim nhân tạo nằm trong số hàng chục thiết bị y tế cấy ghép được làm từ nhựa. Hông bằng titan và nhựa, chân giả, kính áp tròng và polyme hấp thụ sinh học đều là nhựa. Nhiều bộ phận cấy ghép và chân giả y tế được làm bằng Silicon, một loại nhựa dẻo, nhẹ, trơ có thể được sản xuất để có hình dáng và cảm giác giống hệt da thịt. Vô số loại nhựa không phải silicon thường được sử dụng trong y học, bao gồm ống tiêm, túi đựng máu, găng tay phẫu thuật, băng, ống thông và ống truyền tĩnh mạch, được làm bằng polyethylene nylon và polyvinyl clorua mềm. Những vật liệu dùng một lần này đảm bảo vô trùng, giúp giảm nguy cơ nhiễm trùng tiềm ẩn vốn phổ biến hơn nhiều trong thời đại tiền nhựa. Các sản phẩm phụ của dầu mỏ cũng có trong hầu hết các loại mỹ phẩm như son môi, kem nền, mascara, chất tẩy rửa, chất dưỡng ẩm, cồn, chất kết dính và hóa chất thơm. Các chất hóa dầu là thành phần cơ bản trong keo dán và chất kết dính công nghiệp cũng như thuốc nhuộm tạo nên mực và sơn. -Bé Mon dịch và tổng hợp- 9/12/2024 Xem thêm: Hầu hết những căn bệnh mới của thời đại đều là TÁC DỤNG PHỤ của THUỐC TÂY: https://www.facebook.com/share/v/5iiyi87acf5xLa73/?mibextid=CTbP7E Nguồn: https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC3154246/#:~:text=Approximately%203%25%20of%20petroleum%20production,Wesleyan%20College%2C%20December%202010 https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC2848100/
видео или голосовое, без подписи
Nhôm trong vắc xjn và bệnh TỰ KỶ: Nhôm là một chất bổ trợ được sử dụng thông dụng trong vắc xjn. Đã có nghiên cứu về Nhôm trong vắc xjn ảnh hưởng như thế nào đến hệ thần kinh. Người ta nhận thấy nhôm được hấp thụ qua đường ăn uống được đào thải nhanh, trong khi đó nhôm được tiêm vào cơ thể thông qua vắc xjn đi vào máu vẫn sẽ lưu lại trong cơ thể. Các nhà khoa học đã lấy Nhôm Hydroxit ra khỏi vắc xjn và tiêm vào cơ bắp chuột với lịch trình tiêm vắc xjn giống như người. Và họ đã ngạc nhiên khi các triệu chứng hành vi bất thường xuất hiện khá nhanh, không chỉ các triệu chứng suy giảm hành vi ở chức năng vận động, mà còn sự suy giảm về nhận thức. Họ giải phẫu não và tuỷ sống của những con chuột này và thấy tổn thương cực kỳ nghiêm trọng ở hệ thần kinh vận động. Điều này có thể xảy ra ngay lập tức hoặc tạo tiền đề cho các bệnh Parkinson, bệnh xơ cứng teo cơ, bệnh Alzheimer... có thể xảy ra trong tương lai. Cùng xem về kết quả của nghiên cứu "Chất bổ trợ nhôm gây ra cái chết của tế bào thần kinh vận động ở chuột": Bệnh Chiến tranh vùng Vịnh (GWI) ảnh hưởng đến một tỷ lệ đáng kể cựu chiến binh của cuộc xung đột năm 1991, nhưng nguồn gốc của nó vẫn chưa được biết. Liên quan đến một số trường hợp GWI là tỷ lệ mắc bệnh xơ cứng teo cơ một bên và các rối loạn thần kinh khác tăng lên. Trong khi nhiều yếu tố môi trường có liên quan đến GWI, vai trò của vắc-xin phòng bệnh than ngày càng được giám sát chặt chẽ. Trong số các thành phần có khả năng gây độc của vắc-xin có tá dược nhôm hydroxit và squalene. Để kiểm tra xem các hợp chất này có thể góp phần gây ra tình trạng thiếu hụt tế bào thần kinh liên quan đến GWI hay không, một mô hình động vật để kiểm tra tác động thần kinh tiềm ẩn của nhôm hydroxit, squalene hoặc nhôm hydroxit kết hợp với squalene đã được phát triển. Những con chuột CD-1 đực, nhỏ tuổi được tiêm tá dược với liều lượng tương đương với liều dùng cho quân nhân Hoa Kỳ. Tất cả những con chuột đều được tiến hành một loạt các bài kiểm tra về vận động và nhận thức - hành vi trong khoảng thời gian 6 tháng sau khi tiêm. Sau khi chúng chết, các mô của hệ thần kinh trung ương được kiểm tra bằng phương pháp miễn dịch mô học để tìm bằng chứng về tình trạng viêm và chết tế bào. Kiểm tra hành vi cho thấy những khiếm khuyết về vận động ở nhóm điều trị bằng nhôm được biểu hiện bằng sự suy giảm dần dần về sức mạnh được đo bằng thử nghiệm treo lưới thép (khiếm khuyết cuối cùng ở tuần thứ 24; khoảng 50%). Những khiếm khuyết nhận thức đáng kể trong việc kiểm tra "mê cung nước Morris" đã được quan sát thấy ở nhóm kết hợp nhôm và squalene (4,3 lỗi mỗi lần thử nghiệm) so với nhóm đối chứng (0,2 lỗi mỗi lần thử nghiệm) sau 20 tuần. Các tế bào thần kinh chết theo chương trình đã được xác định ở những con vật được tiêm nhôm cho thấy sự gia tăng đáng kể về nhãn caspase-3 được hoạt hóa ở tủy sống thắt lưng (255%) và vỏ não vận động chính (192%) so với nhóm đối chứng. Các nhóm được điều trị bằng nhôm cũng cho thấy sự mất tế bào thần kinh vận động đáng kể (35%) và số lượng tế bào hình sao tăng (350%) ở tủy sống thắt lưng. Những phát hiện này cho thấy một vai trò có thể có của tá dược nhôm trong một số đặc điểm thần kinh liên quan đến GWI và có thể là một vai trò bổ sung cho sự kết hợp của các tá dược. -Bé Mon- 12/12/2024 Nguồn: https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC2819810/ Clip sub: Nguyen Anh Duc
HIV chỉ là hội chứng suy giảm hệ miễn dịch, nên thay đổi lối sống, tăng cường hệ miễn dịch lại là ổn. Thế nhưng truyền thông nâng tầm thành bệnh thế kỷ, phải đi lấy thuốc uống mỗi tháng rất ghê gớm. Mà khi nói sự thật cho họ thì họ ko tin. Thôi thì xác ai nấy giữ 🥹
видео или голосовое, без подписи
Cái ngày đỉnh điểm dịch Cô Vít, Tiến sĩ - Bác sĩ Sean Brooks đã đứng giữa hội trường và tuyên bố rằng những ai chích vx Cô Vít sẽ bị máu đông, suy giảm hệ miễn dịch, sẽ chớt hoặc bị nhiễm H.I.V. Đến nay, thuyết âm mưu đã thành sự thật.
com/p/how-the-ultra-wealthy-use-fine-art-to-avoid-paying-taxes